Bệnh nhân nhập viện do chấn thương vùng cẳng chân trái, đau nhiều, không đứng được và cẳng chân biến dạng rõ. Phim X-quang thấy đoạn 1/3 dưới xương chày trái kèm gãy xương mác cùng tầng, ổ gãy di lệch, có nguy cơ ảnh hưởng trục chi, chiều dài và chức năng cổ chân nếu không điều trị đúng.
Với kiểu gãy xương cẳng chân như trên, bác sĩ chấn thương chỉnh hình chỉ định phẫu thuật kết hợp xương:
– Nắn chỉnh lại trục xương và chiều dài cẳng chân.
– Cố định vững ổ gãy, tạo điều kiện cho xương liền tốt.
– Giúp bệnh nhân sớm tập vận động và trở lại sinh hoạt.
Đặc biệt, vùng 1/3 dưới cẳng chân có lớp phần mềm mỏng, dễ phù nề và chậm lành nếu mổ bộc lộ rộng. Vì vậy, ê-kíp lựa chọn kỹ thuật phẫu thuật xâm lấn tối thiểu (Minimally Invasive Plate Osteosynthesis – MIPO) để giảm sang chấn phần mềm.
Trong phòng mổ, bệnh nhân được đặt dưới màn tăng sáng C-arm, giúp bác sĩ quan sát ổ gãy liên tục trong quá trình thao tác.
– Ổ gãy được nắn chỉnh gián tiếp, không cần bóc tách rộng xung quanh.
– Nẹp vít khóa được luồn dưới da dọc theo xương chày, cố định qua các đường rạch da nhỏ.
– Xương mác được đặt nẹp vít riêng để tăng độ vững và hỗ trợ giữ trục chi.
– Các bác sĩ trong ê-kíp phối hợp chặt chẽ: một bác sĩ chính thao tác, các bác sĩ phụ giữ nắn, hỗ trợ định hướng dụng cụ và kiểm tra vị trí nẹp – vít trên màn tăng sáng.

Nhờ cách tiếp cận này, phần mềm quanh ổ gãy được bảo tồn tối đa, giảm nguy cơ chậm lành vết mổ và biến chứng mô mềm.
Kết quả sau mổ
Phim X-quang kiểm tra sau phẫu thuật ghi nhận:
– Trục xương chày được phục hồi tốt trên hai bình diện.
– Xương mác được cố định vững, hỗ trợ ổn định toàn bộ đoạn gãy.
– Nẹp và vít nằm đúng vị trí, phù hợp với kế hoạch phẫu thuật.
– Khớp cổ chân giữ được tương quan giải phẫu chấp nhận được.





